PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN ĐẾN KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI

1. Vì sao lại là lúc này?

Từ năm 1986 đến nay, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân luôn luôn được khẳng định và hoàn thiện qua từng giai đoạn. Tư tưởng nhất quán là: tôn trọng quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh; bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; mở rộng liên kết và cạnh tranh lành mạnh; cho phép kinh tế tư nhân phát triển về quy mô và địa bàn trong những ngành, nghề pháp luật không cấm. Đến năm 2017, quan điểm “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” tiếp tục được nhấn mạnh.

Sau gần 40 năm, kinh tế tư nhân đã lớn mạnh cả lượng và chất: khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp xấp xỉ 50% GDP, hơn 30% tổng thu NSNN, sử dụng khoảng 82% lao động; nhiều doanh nghiệp vươn ra khu vực và thế giới. Tuy vậy, khu vực này vẫn chưa bứt phá tương xứng kỳ vọng: đa số doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa; năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo hạn chế; năng suất, hiệu quả và quản trị chưa cao; liên kết với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hạn chế.

Nguyên nhân chủ yếu: nhận thức về vai trò kinh tế tư nhân chưa thật đầy đủ; thể chế, pháp luật còn vướng mắc; quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh chưa được bảo đảm thực thi đầy đủ; tiếp cận nguồn lực (vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao) còn khó; chi phí kinh doanh lớn; rủi ro thể chế khiến doanh nghiệp “không dám làm lớn”. Một số lĩnh vực như bất động sản vướng mắc thủ tục đất đai, vốn; xử lý tồn tại kéo dài, tác động đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội.

Năm 2025 là năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 05 năm 2021–2025 và là nền tảng cho Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 05 năm tiếp theo 2026–2030. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và yêu cầu chuyển đổi xanh, việc tiếp tục nhấn mạnh phát triển kinh tế tư nhân chính là làn gió mới để khơi thông động lực, tháo gỡ điểm nghẽn và mở ra bước đột phá cho giai đoạn tới.

2. Quan điểm cốt lỗi:

2.1 Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.

2.2 Phát triển kinh tế tư nhân vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài.

2.3 Xoá bỏ dứt điểm mọi định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam:

2.4 Tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch ổn định, an toàn, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, đủ sức cạnh tranh khu vực, toàn cầu.

Điểm then chốt là môi trường thể chế công bằng, an toàn, chi phí thấp và dự đoán được, thể hiện qua hai thông điệp cam kết:

- Một là, bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng.

- Hai là, không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự, hành chính; ưu tiên biện pháp khắc phục hậu quả kinh tế; không hồi tố quy định pháp luật gây bất lợi; bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội; sớm có kết luận các vụ việc thiếu chứng cứ, chưa rõ chứng cứ để tránh làm gián đoạn hoạt động bình thường của doanh nghiệp.

Hai thông điệp này đều đã được thể hiện rõ trong quy định của pháp luật về kinh tế, dân sự, hành chính và pháp luật về tố tụng, … nhưng cần được thực thi nghiêm, xem như là một bảo chứng về kỷ cương pháp luật và nhà nước pháp quyền, củng cố niềm tin và đặt quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, doanh nhân vào vị trí trung tâm.

3. Gói chính sách theo chuỗi giá trị nguồn lực:

3.1 Thể chế và cân bằng thị trường:

Minh thị hoá cơ chế thị trường: điều tiết bằng công cụ thị trường; giảm can thiệp hành chính, xoá "xin - cho"; chống phân biệt đối xử trong phân bổ vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, công nghệ, nhân lực, dữ liệu và các nguồn lực tài nguyên khác; phòng, chống lạm dụng vị trí thống trị và cạnh tranh không lành mạnh.

- Giảm chi phí tuân thủ: chuyển từ “quản lý” sang “phục vụ - kiến tạo”; số hoá, tự động hoá, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong thủ tục hành chính; loại bỏ, cắt giảm điều kiện kinh doanh; rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính; cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với giám sát rủi ro.

- Liêm chính công vụ: xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu; đồng thời, miễn trừ trách nhiệm cho cán bộ, công chức trong trường hợp đã thực hiện đúng quy trình, quy định, không tư lợi nhưng phát sinh thiệt hại do rủi ro khách quan – để khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm.

3.2 Tiếp cận nguồn lực đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh:

Kiểm soát biến động giá đất, đặc biệt là đất sản xuất, phi nông nghiệp.

- Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, kết nối Trung tâm dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu có liên quan; triển khai giao dịch điện tử; công khai, chủ động cung cấp thông tin; rút ngắn thời gian xử lý thủ tục cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

- Hỗ trợ hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ: cho phép địa phương dùng ngân sách hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng; giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong vòng 05 năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất (Khấu trừ qua nghĩa vụ tiền thuê đất của chủ đầu tư); ưu tiên doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo với hạ tầng sạch – điện – nước – giao thông – viễn thông – thủ tục một cửa.

- Gỡ vướng các dự án chậm tiến độ; đưa vào khai thác đất công, trụ sở bỏ không; xử lý dứt điểm các tranh chấp đất đai kéo dài.

3.2 Tiếp cận vốn và thị trường tài chính:

Đa dạng hoá nguồn vốn: tín dụng thương mại, tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ đầu tư địa phương và quỹ đầu tư tư nhân, các cá nhân và tổ chức tài trợ vốn khác.

- Đa dạng hoá hình thức tài trợ: khuyến khích đồng tài trợ giữa quỹ trung ương – địa phương – tư nhân – tổ chức tài chính, tín dụng; thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) về cho vay ngang hàng, sàn giao dịch gọi vốn cộng đồng để kết nối trực tiếp doanh nghiệp nhỏ và vừa với cá nhân, tổ chức tài trợ vốn.

- Mở rộng bảo lãnh, nới lỏng điều kiện: hoàn thiện quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở cả trung ương và địa phương; khuyến khích bảo lãnh chéo, đồng bảo lãnh của các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp lớn; chấp nhận rủi ro khách quan; quy định mức dự phòng hợp lý; điều kiện bảo lãnh thoáng hơn vay ngân hàng.

- Ưu đãi lãi suất có mục tiêu: hỗ trợ lãi suất và khuyến khích giảm lãi suất cho dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG); tăng mức ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Cho vay dựa trên dữ liệu và dòng tiền: thẩm định mô hình kinh doanh, đầu ra; tài sản bảo đảm linh hoạt (Bao gồm cả động sản, tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai); mở rộng cho vay tín chấp; số hoá quy trình cho vay từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; mở rộng cho thuê tài chính với tài sản phi truyền thống như phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu đối với hoạt động của công ty cho thuê tài chính.

- Phát triển thị trường tài chính: nâng hạng và tái cơ cấu thị trường chứng khoán, phát triển thị trường bảo hiểm, hoàn thiện quy định về trái phiếu doanh nghiệp để nâng cao chất lượng và mở rộng kênh huy động vốn ổn định, chi phí thấp. Nghiên cứu xây dựng khung pháp lý về chứng khoán hoá các khoản nợ.

3.4 Nguồn nhân lực:

Mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp chất lượng cao, ngành nghề trọng điểm; đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp; kết nối đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp.

- Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành; huy động các doanh nhân thành đạt tham gia đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm, truyền cảm hứng, hỗ trợ thiết thực, hiệu quả cho đội ngũ doanh nhân.

- Chi phí đào tạo và đào tạo lại nhân lực của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Thúc đẩy giáo dục, đào tạo các kỹ năng sáng tạo, STEM, ngoại ngữ, kỹ năng số trong tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp.

3.5 Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh:

Thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới (AI, Blockchain, Big Data, Fintech…).

- Được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này; hỗ trợ chi phí đầu tư mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ, chi phí thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh bền vững, tuần hoàn thông qua cơ chế khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tài trợ qua các quỹ.

- Được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nghiên cứu phát triển; được sử dụng quỹ để tự triển khai hoặc đặt hàng nghiên cứu phát triển bên ngoài theo cơ chế khoán sản phẩm.

- Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo kể từ thời điểm phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

- Miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp cho các cá nhân, tổ chức đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp, quyền góp vốn vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

- Miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân cho các chuyên gia, nhà khoa học làm việc tại doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

4. Kết luận:

Phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là tháo gỡ vướng mắc trước mắt, mà còn là kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho giai đoạn 2026–2030 và xa hơn nữa là tầm nhìn đến năm 2045. Trọng tâm là niềm tin thị trường và kỷ cương pháp luật: bảo vệ quyền tài sản – tự do kinh doanh; môi trường cạnh tranh công bằng; thủ tục số hóa – chi phí thấp; tiếp cận đất – vốn – dữ liệu – nhân lực – công nghệ thông suốt; cùng các ưu đãi hướng mục tiêu cho số hóa, xanh hóa, đổi mới sáng tạo.

Dù còn băn khoăn về năng lực kiểm soát biến động giá đất, hiệu quả thực thi nhưng vẫn tin rằng khi thể chế minh bạch và thực thi liêm chính được thiết lập, kinh tế tư nhân sẽ đủ điều kiện bứt phá quy mô, chất lượng và năng suất, trở thành động lực chủ đạo đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số và phát triển bền vững./.

Liên hệ Trilaw